Tìm thông tin trên blog này
Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014
Tại sao trung quốc chưa có giải Nobel ?
Cơ chế giáo dục xơ cứng kiềm chế tình cảm sự phát huy tính sáng tạo của mọi ngườiTrong 60 năm kể từ ngày thành lập nước CHND Trung Hoa đã có 10 người Hoa đoạt giải Nobel: Lý chính đạo , Dương Chấn Ninh , Đinh Triệu Trung , Lý Viễn Triết , Chu Khang Văn , Thôi Kỳ , Đại Lai , Cao Hành Kiện , Tiền Vĩnh Kiện , Cao Côn; trong đó Đạt Lai ( Nobel Hòa bình ) và Cao Hành Kiện ( Nobel văn chương ) do có vấn đề chính trị nên hiện nay chưa được Trung Quốc nhấn. Một học giả Trung Quốc nhận xét: 60 năm qua chúng ta chưa có thành quả khoa học tự nhiên và từng lớp nào sánh được với thành quả của các chủ nhân giải Nobel; chưa nhà văn nào có tác phẩm tương xứng xếp vào cánh rừng văn chương thế giới ... Ví như xét lý lịch 8 người Hoa được nhấn , có khả năng thấy rõ hai điểm: Thứ nhất , họ đều không có quốc tịch Trung Quốc; thứ hai , họ chưa từng hưởng sự giáo dục ở Trung Quốc , hoặc nếu có thì cũng là giáo dục từ trước khi thành lập nước CHND Trung Hoa. Qua đó có khả năng hiểu được sở dĩ người Trung Quốc chưa thể đoạt giải Nobel , ngoài môi trường từng lớp ra , căn nguyên rõ nhất là cơ chế giáo dục của Trung Quốc có vấn đề.Ngành giáo dục Trung Quốc trong 60 năm qua đã giành được những thành quả đáng tự tin tuyên bố , nhưng về cơ chế giáo dục thì bao năm qua vẫn như cũ. Phương châm giáo dục không giả từ Liên Xô và nội dung giáo trình của phương Tây đã bị cắt xén dẫn tới tình trạng nền giáo dục Trung Quốc hiện nay chẳng đâu vào đâu cả. Có khả năng không khách sáo nói rằng nền giáo dục Trung Quốc là nền giáo dục vô vị nhất thế giới; tư tưởng , phương thức và nội dung giáo dục cho học trò hoàn toàn đi ngược bản chất của giáo dục. Giáo sư Ngô Hữu Thọ , Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc nói: nhân tố chính ngăn cản chúng ta giành được giải Nobel là các nhà khoa học của ta thiếu tinh thần bạc nhược sáng tạo cái mới; các nhà quyết định chính sách lại càng thiếu tính sáng tạo. Đây là lỗi của cơ chế giáo dục hiện hành tại Trung Quốc. Hiện nay chúng ta lấy tỷ lệ học trò thi đỗ làm thời hạn chính để đánh giá trình độ nhà trường; trọng tâm mọi Công việc của học đường đều nhằm vào nâng cao tỷ lệ học trò thi đỗ và lên lớp; dù thầy hay trò đều cuồng điên đeo đuổi mục đích nâng cao Thành quả thi; lối học thuộc làu tri thức trở nên phép mầu để đạt cao điểm. Cho dù học trò Trung Quốc liên tiếp giành Thành quả cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế , nhưng đấy chỉ là kết quả sự tập luyện làm thật nhiều bài tập khó mà thôi , thực tình không hề nâng cao được chút nào tư duy sáng tạo của các em , không hình thành tinh thần bạc nhược sáng tạo. Khưu Thành Đồng , người Hoa duy nhất đoạt giải Fields Toán học mới đây phát biểu tại ĐH Thanh Hoa cho rằng: thi Olympic toán không đào tạo được nhà toán học lớn. Ông Không thừa nhận Trung Quốc dùng hình thức này để đào tạo học sinh; thực tiễn cho thấy hồ hết học trò Trung Quốc huy chương vàng thi Olympic toán quốc tế hiện làm nghiên cứu sinh ở chỗ ông đều phải đào tạo lại. Trẻ em Trung Quốc kể từ ngày sơ sinh mẹ , phần lớn mọi sự sau đấy đều đã được thế giới người lớn thu xếp xong cả rồi; gia đình , nhà trường , từng lớp không những “bao” mọi chuyện ăn bận ở đi lại , lại càng “bao” cả tư tưởng của chúng – đứng trước mọi vấn đề sẽ gặp phải , chúng rất ít khi cần tự mình động não tìm cách giải quyết , mà chỉ cần dựa theo sự thu xếp sẵn có của thế giới người lớn mà xử lí là xong; ngoại giả thế giới người lớn còn Dự bị sẵn cho chúng một chân lí duy nhất đúng đắn vĩnh hằng , nhiệm vụ của chúng là bị động hấp thu chân lí đó và truyền lại cho đời sau rốt thế hệ này đến thế hệ khác. Học trò Trung Quốc từ bé đã không được đào tạo năng lực tư duy độc lập; từ tiểu học tới đại học , cái làm gọi là triết học và trí óc đều không được thực sự coi trọng; dưới cơ chế giáo dục mâu thuẫn , học trò bị nhồi nhiều nội dung hão huyền. Hiện đã phát hiện một số sự tích “nhân vật anh hùng” trong sách giáo khoa là dựng đứng , nhằm dạy lũ trẻ mù quáng noi theo các tấm gương đó. Toàn bộ hệ thống giao thông giáo dục chưa nhân ái sinh quan , giá trị quan , thế giới quan đúng đắn , khiến trẻ em Trung Quốc càng học càng không thực , không có niềm tin , không có mục đích đeo đuổi. Một số học trò phổ quát tham dự tranh cãi về giải Nobel cũng nói chúng em học toán lý hóa là để thi đỗ đại học; học đại học là để kiếm việc làm , kiếm tiền , để làm cán bộ , chẳng ai nuôi chí Trọn kiếp làm nghiên cứu sáng tạo KHKT; như thế thì sao có giải Nobel được. Khoa học cổ hủ , vấn đề chính là ở khâu đào tạo bậc đại học. Cơ chế quan liêu trong các trường ĐH đã bóp chết mọi nhân kiệt có tính sáng tạo. Phần lớn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu trong trường ĐH và cơ quan nghiên cứu khoa học hiện nay là những người thích làm quan chức và làm học phiệt; đối với họ , làm quan kiếm tiền là trên hết; tri thức học thức là thứ yếu. người thực sự làm khoa học đã ít lại càng ít; nếu có thì cũng chẳng có không gian phát triển. Tín ngưỡng của giới cán bộ khoa học càng ngày càng xuống cấp. Mới đây chinanews.com.cn đưa tin không ít giáo sư đại học lợi dụng việc chỉ dẫn nữ nghiên cứu sinh tấn sĩ để giở trò đồi tệ với họ. Hiện tượng không giả luận văn , kết quả nghiên cứu của người khác rất phổ quát , như thế sao có khả năng thu được kết quả nghiên cứu có giá trị. Cán bộ khoa học kém tín ngưỡng thì sẽ chẳng bao giờ đạt được thành quả tương xứng giải Nobel. Nhà khoa học người Hoa Charles Kuen Kao ( Cao Côn ) ngay từ năm 1966 đã hoàn thành công trình nghiên cứu truyền thông tin ánh sáng bằng sợi cáp quang , sau thời gian ấy ông cũng chẳng nhìn đăng kí sáng chế phát minh , thế mà 40 năm sau ông nghiễm nhiên được trao một nửa giải Nobel Vật lý 2009 – là một điển hình về tín ngưỡng khoa học.Ảnh hưởng thụ động của văn hóa truyền thốngTại Diễn đàn văn hóa cấp cao 2004 tổ chức ở Bắc Kinh , chủ nhân giải Nobel người Hoa Dương Chấn Ninh từng “nổ súng” vào Kinh Dịch , nói Kinh Dịch có tác động đến một điều gì đó xấu tới phương thức tư duy của văn hóa Trung Quốc , “ảnh hưởng này là một trong các căn nguyên quan yếu làm cho khoa học cận kim chẳng thể phát sinh ở Trung Quốc”. Trong Kinh Dịch chỉ có biện pháp quy nạp mà không có biện pháp suy diễn; mà khoa học thì đòi hỏi phải dùng cả hai biện pháp đó. Mặt khác , Kinh Dịch chủ trương thiên nhân hợp nhất , coi quy luật của trời ( tự nhiên ) và quy luật của con người là một; trong khi khoa học đòi hỏi phải tách riêng.Các mặt thụ động của nền văn hóa truyền thống Trung Hoa , chủ yếu là văn hóa đạo nho , đã có có tác động đến một điều gì đó lớn đối với tư tưởng giáo dục Trung Quốc , nhất là việc đào tạo nhân kiệt sáng tạo. Tư tưởng “Đại nhất thống” của văn hóa đạo nho nhấn mạnh sự hợp nhất cao về chính trị và văn hóa của quốc gia; nó hiện diện hăng hái là nhấn mạnh ý thức tập thể , song lại xóa bỏ ý thức chủ thể của cá nhân chủ nghĩa và không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc chủ trương. Đồng thời “Đạo Trung Dung” mà văn hóa đạo nho khởi xướng cũng kiềm chế tình cảm tư duy mới của chúng ta. “Trung Dung” là nguyên tắc căn bản trong triết học Khổng Tử , là vũ trụ quan , biện pháp luận và thời hạn tín ngưỡng được văn hóa đạo nho ra công đề cao. “Trung Dung” lấy phù hợp hợp nhất làm tiền đề , cho rằng sự phát triển của con người hoặc sự vật đều nên vừa phải , trong giới hạn thích đáng , không “quá mức” và “bất cập”. Có tác động đến một điều gì đó rõ nhất của tư tưởng này đối với giáo dục là giáo viên chỉ thích các học trò ngoan ngoãn vâng lời mà ra công bài bác các học trò nói năng hoặc có nghĩ suy “ngoài khuôn phép” , đòi hỏi chúng phải “cải tạo” cho hợp mẫu mực. Như thế tuy đã đưa học trò vào mẫu mực nhưng lại bóp chết năng khiếu của biết chừng nào trẻ em sáng dạ. Rất tiếc là tới nay nhiều người vẫn chưa nhận thức được ác hại sâu xa của các mặt thụ động trong văn hóa truyền thống Trung Quốc đối với việc giáo dục tinh thần bạc nhược sáng tạo KHKT , .Trung Quốc còn cách giải Nobel bao xa? Điều này chẳng thể nói trong vài câu mà xong. Nhưng nếu không thay đổi biện pháp giáo dục đối phó với thi cử , nếu không từ bỏ các có tác động đến một điều gì đó thụ động của văn hóa truyền thống đối với giáo dục , nếu ngành giáo dục cứ áp dụng cách làm của nền kinh tế kế hoạch thì chúng ta khó lòng rút ngắn bài phát biểu được khoảng cách tới giải Nobel – học giả Từ Hiểu viết.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét